Hệ thống VAS chưa có chuẩn mực tương đương IFRS 13 về đo lường giá trị hợp lý và IAS 36 về tổn thất tài sản, và nền tảng của VAS vẫn là giá gốc. Hai khoảng trống này đi cùng nhau: muốn kiểm tra một tài sản có bị tổn thất hay không thì phải so giá trị ghi sổ với giá trị có thể thu hồi, mà giá trị có thể thu hồi là số cao hơn giữa giá trị hợp lý trừ chi phí thanh lý và giá trị sử dụng. Cả hai đại lượng này đều đòi dữ liệu mà sổ kế toán hiện tại không có: dữ liệu thị trường cho vế thứ nhất, và dòng tiền dự kiến kèm tỉ suất chiết khấu cho vế thứ hai.
Giá trị hợp lý: định nghĩa và bốn thứ phải xác định
Giá trị hợp lý là giá nhận được khi bán một tài sản, hoặc giá phải trả khi chuyển giao một khoản nợ phải trả, trong một giao dịch có trật tự giữa các bên tham gia thị trường tại ngày đo lường.
Định nghĩa này chứa hai điểm hay bị hiểu lệch. Thứ nhất, đây là giá thoát ra chứ không phải giá mua vào. Thứ hai, đây là giá theo góc nhìn của bên tham gia thị trường, không phải theo góc nhìn hay ý định riêng của doanh nghiệp đang nắm tài sản.
IFRS 13 buộc doanh nghiệp xác định bốn thứ cho mỗi lần đo lường:
| Phải xác định | Nghĩa là gì |
|---|---|
| Tài sản hoặc khoản nợ cụ thể được đo lường | Đơn vị đo lường: một tài sản đơn lẻ hay một nhóm tài sản |
| Với tài sản phi tài chính, cơ sở định giá phù hợp | Giả định về việc sử dụng tài sản ở mức cao nhất và tốt nhất theo góc nhìn của bên tham gia thị trường |
| Thị trường chính, hoặc thị trường có lợi nhất | Nơi giao dịch được giả định diễn ra, quyết định mức giá tham chiếu |
| Kỹ thuật định giá phù hợp và cấp dữ liệu đầu vào | Cân nhắc sẵn có của dữ liệu đại diện cho giả định mà bên tham gia thị trường sẽ dùng |
Ba cấp dữ liệu đầu vào
| Cấp | Dữ liệu đầu vào | Ví dụ | Mức xét đoán |
|---|---|---|---|
| 1 | Giá niêm yết chưa điều chỉnh trên thị trường hoạt động cho chính tài sản đó | Cổ phiếu niêm yết, trái phiếu chính phủ có giao dịch thường xuyên | Thấp nhất |
| 2 | Dữ liệu quan sát được, trực tiếp hoặc gián tiếp, khác với giá niêm yết ở cấp 1 | Giá giao dịch của tài sản tương tự, lãi suất và đường cong lợi suất quan sát được | Trung bình |
| 3 | Dữ liệu không quan sát được | Dòng tiền dự phóng của một nhà máy, giả định về tỉ lệ tăng trưởng dài hạn | Cao nhất, kèm yêu cầu thuyết minh nặng nhất |
VAS đang cấm giá trị hợp lý ở đâu và bắt dùng ở đâu
Nghịch lý của hệ thống hiện hành là vừa cấm vừa bắt dùng giá trị hợp lý, chỉ là không có chuẩn mực hướng dẫn cách đo.
| Trường hợp | Cách xử lý theo VAS |
|---|---|
| Tài sản cố định hữu hình | VAS 3 chỉ có mô hình giá gốc, không có mô hình đánh giá lại |
| Bất động sản đầu tư | VAS 5 chỉ có mô hình giá gốc; giá trị hợp lý chỉ để thuyết minh, và nếu không xác định được thì phải nêu lý do |
| Hợp nhất kinh doanh | Bắt buộc xác định giá trị hợp lý của tài sản mua và nợ phải trả nhận về |
| Trao đổi tài sản phi tiền tệ | Bắt buộc xác định giá trị hợp lý |
| Giao dịch trao đổi cổ phiếu | Cổ phiếu nhận về đo theo giá trị hợp lý tại ngày trao đổi |
| Mua tài sản cố định hoặc hàng tồn kho kèm phụ tùng thay thế | Giá trị hợp lý của phụ tùng được xác định và ghi nhận riêng |
Ở tầng chế độ kế toán, Thông tư 99/2025/TT-BTC áp dụng từ năm tài chính 2026 đã mở rộng phạm vi ghi nhận theo giá trị hợp lý và bổ sung hướng dẫn về cách xác định. Đây là bước thu hẹp khoảng cách, dù chuẩn mực về đo lường giá trị hợp lý vẫn chưa có.
Tổn thất tài sản: câu hỏi và cách trả lời
IAS 36 nhằm bảo đảm tài sản không được ghi sổ ở mức cao hơn giá trị có thể thu hồi. Quy trình gồm ba bước.
| Bước | Việc làm | Tần suất |
|---|---|---|
| 1 | Đánh giá xem có dấu hiệu nào cho thấy tài sản có thể bị tổn thất hay không | Tại mỗi ngày báo cáo |
| 2 | Nếu có dấu hiệu, hoặc khi thuộc nhóm bắt buộc kiểm tra hằng năm, thì ước tính giá trị có thể thu hồi | Khi phát sinh dấu hiệu; riêng lợi thế thương mại và tài sản vô hình có thời gian sử dụng không xác định thì ít nhất mỗi năm |
| 3 | Ghi nhận lỗ tổn thất bằng phần chênh lệch giữa giá trị ghi sổ và giá trị có thể thu hồi, và điều chỉnh mức khấu hao cho các kỳ sau | Ngay khi xác định được |
Lỗ tổn thất ghi thẳng vào lãi lỗ, trừ khi tài sản đang được ghi theo giá trị đánh giá lại theo một chuẩn mực khác. Trong trường hợp đó, lỗ tổn thất được xử lý như một khoản giảm giá trị đánh giá lại. Sau khi ghi nhận lỗ tổn thất, chi phí khấu hao các kỳ sau phải tính lại để phân bổ giá trị ghi sổ mới trừ giá trị thanh lý ước tính trên thời gian sử dụng hữu ích còn lại.
Giá trị có thể thu hồi tính ra sao
Giá trị có thể thu hồi là số cao hơn giữa hai đại lượng:
| Đại lượng | Cách tính | Dữ liệu cần |
|---|---|---|
| Giá trị hợp lý trừ chi phí thanh lý | Đo theo IFRS 13 rồi trừ chi phí trực tiếp để bán | Giá giao dịch của tài sản tương tự, báo giá của đơn vị định giá |
| Giá trị sử dụng | Hiện giá của dòng tiền dự kiến thu được từ việc tiếp tục sử dụng tài sản và từ việc thanh lý cuối cùng | Dự phóng dòng tiền được ban lãnh đạo phê duyệt, tỉ suất chiết khấu trước thuế |
Đơn vị tạo tiền
Nhiều tài sản không tự sinh dòng tiền độc lập. Một dây chuyền trong nhà máy, một cửa hàng trong chuỗi, một tuyến trong mạng lưới phân phối đều chỉ sinh tiền khi vận hành cùng các tài sản khác. Khi đó việc kiểm tra tổn thất phải làm ở mức đơn vị tạo tiền, tức là nhóm tài sản nhỏ nhất tạo ra dòng tiền vào độc lập đáng kể với dòng tiền của các tài sản khác.
Xác định đơn vị tạo tiền là việc mang tính xét đoán và nó quyết định kết quả. Chia nhỏ quá thì nhiều đơn vị lộ ra tổn thất, gộp lớn quá thì tổn thất bị che bởi các bộ phận đang lãi. Cách chia phải nhất quán qua các kỳ và phải giải thích được.
Khi dùng phương pháp giá trị sử dụng để đo tổn thất, IFRS yêu cầu thuyết minh tỉ suất chiết khấu đã dùng, tức là chi phí sử dụng vốn bình quân của hoạt động dùng tài sản đó. Đây là tham số không quan sát được trên thị trường mà do doanh nghiệp tự ước tính, nên việc công bố chính là cơ chế kiểm soát: người đọc nhìn tỉ suất là biết doanh nghiệp có dùng tỉ suất thấp để giữ giá trị tài sản khỏi bị ghi giảm, hay dùng tỉ suất cao để tạo dư địa cho các kỳ sau. Thực tế ở các thị trường đã áp dụng IFRS cho thấy nhiều doanh nghiệp công bố dưới dạng khoảng rất rộng, và cách làm đó tuân thủ về hình thức nhưng không đạt mục tiêu minh bạch của yêu cầu thuyết minh.
Vì sao hai chuẩn mực này khó với doanh nghiệp Việt Nam
| Khó khăn | Biểu hiện cụ thể | Cách gỡ |
|---|---|---|
| Thiếu dữ liệu thị trường | Nhiều loại tài sản chuyên dùng không có thị trường hoạt động, cũng ít giao dịch tương tự để tham chiếu | Chuyển sang phương pháp giá trị sử dụng, và ghi lại đầy đủ lập luận về lý do không dùng được dữ liệu cấp 1 và cấp 2 |
| Chưa có thói quen dự phóng dòng tiền theo tài sản | Kế hoạch kinh doanh lập theo công ty hoặc theo mảng, chưa gắn với nhóm tài sản | Xác định đơn vị tạo tiền trước, rồi thiết kế lại cách lập kế hoạch theo đúng các đơn vị đó |
| Phụ thuộc đơn vị bên ngoài | Định giá bất động sản, định giá máy móc chuyên dùng đều phải thuê ngoài, thời gian chờ nằm ngoài tầm kiểm soát | Đặt lịch từ sớm, vì đây là đầu việc có thời gian chờ dài nhất trong dự án chuyển đổi |
| Kết quả có thể làm xấu báo cáo | Lỗ tổn thất ghi thẳng vào kết quả kinh doanh, chạm tới các điều khoản ràng buộc trong hợp đồng vay | Ước tính sớm trên số liệu một kỳ đã đóng, để có thời gian trao đổi với bên cho vay |
Điểm cuối đáng lưu ý theo hướng ngược lại. IFRS 1 cho phép dùng giá trị hợp lý làm giá gốc quy ước cho tài sản cố định tại ngày chuyển đổi. Nhiều tài sản mua từ lâu, nhận từ bên liên quan theo giá trị ghi sổ của bên chuyển giao, hoặc nhận bàn giao từ cơ quan nhà nước với giá trị danh nghĩa đang được ghi sổ thấp hơn nhiều so với giá trị hợp lý. Ghi tăng lên giá trị hợp lý làm tăng tài sản thuần hữu hình trên báo cáo, và tài sản thuần hữu hình lại là chỉ tiêu mà nhiều điều khoản vay dẫn chiếu tới. Chi tiết về lựa chọn này nằm ở bài IFRS 1: dựng bảng cân đối kế toán đầu kỳ.
Hai vùng này trong hệ chuẩn mực VFRS
Giá trị hợp lý là vùng được nêu đầu tiên trong các khác biệt kỹ thuật lớn nhất giữa hệ hiện hành và IFRS, và nó là điều kiện cần cho vùng thứ hai là tổn thất tài sản. Hệ chuẩn mực VFRS xây trên nền IFRS theo mô hình hội tụ có điều chỉnh, nên hai chuẩn mực tương ứng với IFRS 13 và IAS 36 nằm trong danh sách khoảng 44 chuẩn mực sẽ công bố theo ba đợt trong giai đoạn 2026 tới 2029 theo lộ trình xây dựng VFRS.
Ở tầng chế độ kế toán thì bước đi đã bắt đầu: Thông tư 99/2025 mở rộng phạm vi ghi nhận theo giá trị hợp lý, bổ sung hướng dẫn cách xác định, và thừa nhận khái niệm tổn thất suy giảm giá trị tài sản. Doanh nghiệp nào tập dượt hai vùng này ngay trong kỳ sổ theo Thông tư 99 sẽ đỡ hẳn khi chuẩn mực chính thức có hiệu lực.
Câu hỏi thường gặp
Giá trị hợp lý theo IFRS 13 định nghĩa thế nào?
Là giá nhận được khi bán một tài sản, hoặc giá phải trả khi chuyển giao một khoản nợ phải trả, trong giao dịch có trật tự giữa các bên tham gia thị trường tại ngày đo lường. Đây là giá thoát ra theo góc nhìn của bên tham gia thị trường, khác với giá mua vào và khác với ý định riêng của doanh nghiệp đang nắm tài sản.
Ba cấp dữ liệu đầu vào của giá trị hợp lý là gì?
Cấp 1 là giá niêm yết chưa điều chỉnh trên thị trường hoạt động cho chính tài sản đó. Cấp 2 là dữ liệu quan sát được trực tiếp hoặc gián tiếp, khác với giá niêm yết ở cấp 1, chẳng hạn giá của tài sản tương tự hoặc lãi suất quan sát được. Cấp 3 là dữ liệu không quan sát được, chẳng hạn dòng tiền dự phóng nội bộ. Cấp càng thấp thì mức xét đoán và yêu cầu thuyết minh càng cao.
Giá trị có thể thu hồi tính bằng cách nào?
Là số cao hơn giữa giá trị hợp lý trừ chi phí thanh lý và giá trị sử dụng. Giá trị sử dụng là hiện giá của dòng tiền dự kiến thu được từ việc tiếp tục sử dụng tài sản cộng dòng tiền từ việc thanh lý cuối cùng, chiết khấu theo tỉ suất trước thuế phản ánh đánh giá hiện tại của thị trường về giá trị thời gian của tiền và các rủi ro riêng của tài sản.
Đơn vị tạo tiền là gì và vì sao quan trọng?
Là nhóm tài sản nhỏ nhất tạo ra dòng tiền vào độc lập đáng kể với dòng tiền của các tài sản khác. Quan trọng vì phần lớn tài sản không tự sinh dòng tiền riêng, nên việc kiểm tra tổn thất phải làm ở mức nhóm. Cách chia nhóm quyết định kết quả: chia nhỏ thì nhiều đơn vị lộ tổn thất, gộp lớn thì tổn thất bị che bởi các bộ phận đang lãi. Cách chia phải nhất quán qua các kỳ và giải thích được.
Lỗ tổn thất đã ghi có được hoàn nhập không?
IAS 36 cho hoàn nhập lỗ tổn thất khi các ước tính dùng để xác định giá trị có thể thu hồi thay đổi, với giới hạn là giá trị ghi sổ sau hoàn nhập không vượt quá giá trị ghi sổ lẽ ra đã có nếu chưa từng ghi nhận lỗ tổn thất. Riêng lỗ tổn thất của lợi thế thương mại thì không được hoàn nhập.
Thông tư 99/2025 đã có quy định về giá trị hợp lý chưa?
Thông tư 99/2025/TT-BTC áp dụng từ năm tài chính 2026 đã mở rộng phạm vi ghi nhận theo giá trị hợp lý, bổ sung hướng dẫn về cách xác định, và thừa nhận khái niệm giá trị thuần có thể thực hiện được cùng tổn thất suy giảm giá trị tài sản. Đây là bước tiệm cận ở tầng chế độ kế toán. Chuẩn mực về đo lường giá trị hợp lý tương đương IFRS 13 thì vẫn chưa có.
- IFRS 13 Fair Value Measurement, ban hành tháng 5/2011
- IAS 36 Impairment of Assets
- IAS 16 Property, Plant and Equipment, đoạn 16 về vốn hoá chi phí tháo dỡ và hoàn nguyên
- VAS 3 Tài sản cố định hữu hình, VAS 5 Bất động sản đầu tư
- Thông tư 99/2025/TT-BTC ngày 27/10/2025 hướng dẫn Chế độ kế toán doanh nghiệp, hiệu lực 01/01/2026
Dữ liệu tài sản đủ chi tiết để kiểm tra tổn thất
Kiểm tra tổn thất cần theo dõi tài sản tới từng thẻ, kèm nguyên giá, hao mòn luỹ kế và bộ phận sử dụng, để gom được về đúng đơn vị tạo tiền. Phần mềm Kế toán VFRS quản lý tài sản cố định theo từng thẻ ngay từ đầu.

Để lại một bình luận