Chuyển đổi sang chuẩn mực quốc tế là một chuyến đi, không phải một cuộc cách mạng: đi từ một nền kế toán hoàn chỉnh sang một nền kế toán hoàn chỉnh khác. Dự án chia làm bốn giai đoạn: khoanh phạm vi, chuẩn bị nguồn lực, thực thi, giám sát. Kinh nghiệm ở các nước đã chuyển đổi cho thấy năm sai lầm lặp lại: đánh giá thấp khối lượng việc, nhìn dự án thiếu tổng thể, khởi động muộn làm chi phí tăng vọt, chưa đưa được việc lập báo cáo mới vào vận hành thường xuyên, và khó làm đúng ngay từ lần đầu. Mốc đáng lo nhất nằm trước ngày công bố báo cáo rất xa, vì thứ được chuyển đổi là cả hệ thống báo cáo tài chính chứ chỉ riêng bộ báo cáo.
Bốn giai đoạn
| Giai đoạn | Nội dung | Kết quả phải có |
|---|---|---|
| Khoanh phạm vi | Xác định quy mô và bề rộng của công việc, đặt hạn chót và thứ tự ưu tiên, phân công trách nhiệm | Danh sách vùng chênh lệch xếp theo mức ưu tiên, lịch việc, người chịu trách nhiệm từng phần |
| Chuẩn bị nguồn lực | Trang bị cho những người chịu trách nhiệm lập báo cáo tài chính đủ năng lực để chuyển đổi đúng hạn và không sai sót, rồi tiếp tục lập báo cáo theo chuẩn mực mới về sau | Đội ngũ nắm chuẩn mực, quy trình mới, công cụ và hệ thống đã sẵn sàng |
| Thực thi | Lập kế hoạch chi tiết rồi thu thập dữ liệu, phân tích giao dịch, đo lường, phân loại và thuyết minh theo chuẩn mực mới | Bảng cân đối kế toán đầu kỳ, số liệu so sánh, bộ thuyết minh chuyển đổi |
| Giám sát | Bảo đảm chất lượng đúng như kỳ vọng, gắn kiểm soát nội bộ vào quy trình, để người phụ trách quản trị thực hiện được vai trò giám sát | Hồ sơ kiểm soát, bằng chứng soát xét, báo cáo tiến độ cho ban quản trị |
Ở giai đoạn khoanh phạm vi, có hai mặt phải làm cùng lúc. Mặt thứ nhất là quy trình chuyển đổi: bao nhiêu đơn vị tham gia, nằm ở đâu, lấy dữ liệu kịp không, kiểm soát ra sao, và kế hoạch để mọi người hiểu chuẩn mực kịp trước ngày chuyển đổi. Mặt thứ hai là nguyên tắc kế toán: vùng nào phải xử lý ngay, vùng nào để sau.
Đừng bỏ sót ai trong phạm vi
Kế hoạch chuyển đổi cần phủ hết ba nhóm dưới đây, và nhóm nào bị bỏ sót thì lộ ra vào đúng lúc hợp nhất số liệu:
- Mọi chi nhánh, bộ phận và địa điểm có gửi số liệu vào báo cáo hợp nhất
- Mọi khoản đầu tư và liên doanh có số liệu kế toán được đưa vào kết quả hợp nhất
- Mọi đơn vị hiện đang nằm ngoài bảng cân đối mà theo chuẩn mực mới có thể phải hợp nhất
Ngoài ra còn nhóm cung cấp dữ liệu đầu vào từ bên ngoài: đơn vị tính toán actuary cho phúc lợi người lao động, đơn vị định giá cho việc kiểm tra tổn thất tài sản. Thời gian chờ của họ nằm ngoài tầm kiểm soát và có thể ăn hết phần lịch dự phòng của dự án.
Ba mức ưu tiên
| Mức | Đặc điểm |
|---|---|
| Cần xử lý ngay | Chênh lệch lớn giữa hệ hiện hành và chuẩn mực mới, lại cần nhiều thời gian chuẩn bị và thu thập dữ liệu |
| Xử lý sau | Chênh lệch nhỏ hơn hoặc ít phổ biến hơn, thời gian chuẩn bị ngắn hơn nên làm sau các nhóm trên vẫn kịp |
| Sẽ tự thu hẹp | Vùng mà quy định trong nước đang dịch dần về phía chuẩn mực quốc tế, khối lượng việc phụ thuộc tốc độ hội tụ đó |
Dự án này rộng hơn phòng kế toán
Một cuộc chuyển đổi chạm tới nhiều mặt cùng lúc, và nhìn nó như việc thuần tuý kế toán chính là sai lầm đầu tiên trong danh sách bài học phía dưới.
| Mặt bị chạm tới | Nội dung cụ thể |
|---|---|
| Hệ thống công nghệ thông tin | Sổ cái, hệ thống tài khoản, sổ phụ và các luồng dữ liệu vào ra đều có thể phải thiết kế lại |
| Nhân sự và lương thưởng | Chỉ tiêu thưởng gắn với số liệu tài chính sẽ đổi nền tính; cơ cấu chương trình thưởng bằng cổ phiếu cũng nên xem lại vì chi phí được ghi nhận sớm hơn |
| Tuyển dụng và đào tạo | Năng lực lập báo cáo theo chuẩn mực mới phải có trước khi dự án kết thúc, nên việc đào tạo phải hoàn tất sớm hơn ngày công bố |
| Ngân quỹ và quan hệ tín dụng | Điều khoản ràng buộc trong hợp đồng vay dẫn chiếu tới số liệu báo cáo |
| Quản lý hợp đồng | Hợp đồng bán hàng, hợp đồng thuê, hợp đồng phân chia lợi nhuận đều là nguồn dữ liệu đầu vào của chuẩn mực mới |
| Khung kiểm soát nội bộ | Quy trình mới cần kiểm soát mới, và đây là phần thường bị làm sau cùng |
| Thuế | Nghĩa vụ thuế không đổi, nhưng đường đối chiếu giữa số liệu kế toán và số liệu kê khai thuế phải dựng và duy trì |
| Truyền thông với thị trường | Nhà đầu tư và bên cho vay cần được chuẩn bị trước khi số liệu đổi |
Năm bài học lặp lại ở các nước đã chuyển đổi
| # | Bài học | Cách né |
|---|---|---|
| 1 | Khối lượng việc thường bị đánh giá thấp. Nhận thức ban đầu coi đây là vấn đề kế toán, rồi dần nhận ra dự án lớn và phức tạp hơn nhiều | Khoanh phạm vi bằng số liệu thật: đếm đơn vị, đếm hợp đồng, đếm số dư cần dựng lại, thay vì ước lượng cảm tính |
| 2 | Dự án thiếu cách nhìn tổng thể, bỏ qua các tác động lan sang công nghệ thông tin, nhân sự và thuế | Lập nhóm dự án có mặt các bộ phận đó ngay từ giai đoạn khoanh phạm vi |
| 3 | Khởi động muộn làm chi phí tăng vọt. Doanh nghiệp chuẩn bị sớm ở tình trạng tốt hơn hẳn doanh nghiệp trì hoãn, và phần chênh lệch đến từ việc phải huy động gấp nguồn lực | Bắt đầu từ các đầu việc cần dữ liệu tích luỹ theo thời gian, vì đó là loại việc không rút ngắn được bằng cách tăng người |
| 4 | Nhiều doanh nghiệp chưa đưa được việc lập báo cáo theo chuẩn mực mới vào trạng thái vận hành thường xuyên. Do thời gian gấp, bộ báo cáo năm đầu thường làm bằng cách thủ công và không duy trì được lâu dài | Đưa chuẩn mực mới vào hệ thống và quy trình, thay vì dựng một bộ bảng tính chạy ngoài sổ |
| 5 | Khó làm đúng ngay lần đầu. Ngay cả khi đủ thời gian, nguồn lực và kiến thức, quá trình chuyển đổi vẫn khó và dễ sai sót | Chừa đủ thời gian để soát xét chất lượng trước khi công bố, thay vì lấp kín lịch tới sát ngày |
Thứ được chuyển đổi là cả hệ thống báo cáo tài chính cùng các hoạt động đi kèm như huy động vốn, ký hợp đồng và xử lý nghiệp vụ, chứ đâu chỉ riêng bộ báo cáo. Nhiều đầu việc phải xong sớm hơn ngày công bố nhiều tháng: năng lực lập báo cáo nội bộ phải có trước khi dự án kết thúc; thay đổi hệ thống công nghệ thông tin cần thời gian dài để lập trình và kiểm thử; kế hoạch, dự toán, chỉ tiêu thưởng và các mốc đánh giá kết quả thì được đặt ra trước khi kỳ tài chính bắt đầu. Đặt hạn chót nội bộ sớm cũng đồng nghĩa quỹ thời gian còn lại để làm phần chuyển đổi bị hẹp đi, và cách bù là mở rộng số người tham gia, việc này lại giúp cả tổ chức hiểu chuẩn mực mới nhanh hơn.
Điều khoản hợp đồng vay: xử lý trước hay xử lý sau
Hợp đồng vay và các thoả thuận khác thường dẫn chiếu tới số liệu lập theo chuẩn mực kế toán đang áp dụng. Bốn loại ràng buộc hay gặp: mức tài sản thuần hữu hình tối thiểu tính theo giá trị ghi sổ của tài sản cố định; giới hạn dư nợ vay tính theo giá trị sổ sách của một số khoản nợ; hệ số khả năng trả lãi tính bằng cách so chi phí lãi và phí tài chính với một chỉ tiêu kiểu EBITDA; và hệ số thanh khoản tính theo tỉ lệ giữa phải thu cùng hàng tồn kho với phải trả và các khoản nợ ngắn hạn khác.
Có hai cách tiếp cận, và chúng cho ra kết quả khác nhau.
| Cách | Nội dung | Rủi ro |
|---|---|---|
| Đàm phán sau | Coi việc đàm phán lại hợp đồng là một bước nối thêm vào cuối quy trình chuyển đổi, làm sau khi đã chốt xong các chính sách kế toán | Quy trình chuyển đổi gọn hơn, nhưng nếu báo cáo mới khắc hoạ một doanh nghiệp rủi ro hơn thì chi phí vay tăng, hoặc vi phạm điều khoản và bị yêu cầu trả nợ trước hạn |
| Đàm phán song song | Coi chuyển đổi là một hoạt động chiến lược, hướng tới việc tối đa dòng tiền vào và giảm dòng tiền ra | Tốn công hơn ở giai đoạn đầu, đổi lại chủ động |
Cách thứ hai gồm ba bước: xác định ảnh hưởng của chuyển đổi lên báo cáo tài chính, có mô hình hoá các lựa chọn đang cân nhắc mà chưa chốt phương án nào; dự phóng các số dư liên quan trên báo cáo đã chuyển đổi cùng ảnh hưởng của chúng lên các điều khoản ràng buộc trong nhiều tình huống; rồi mở đàm phán với hạn chót đủ sớm để kết thúc trước ngày chuyển đổi. Khi số liệu sau chuyển đổi còn quá khó đoán, có thể hoãn đàm phán cho tới lúc các lựa chọn lớn như đánh giá lại tài sản cố định đã đủ rõ.
Công bố ra thị trường: chọn cách nào
Quy định về thuyết minh khi áp dụng lần đầu buộc đối chiếu số liệu của kỳ trước năm chuyển đổi. Hệ quả là trong bộ báo cáo của năm áp dụng, nhà đầu tư khó tách được đâu là thay đổi do hoạt động thực và đâu là thay đổi do đổi chuẩn mực. Có hai cách xử lý.
| Cách | Nội dung | Nhận xét |
|---|---|---|
| Công bố trọn gói | Công bố kết quả năm cuối theo chuẩn mực cũ trước, rồi ngay sau đó công bố trọn gói số liệu theo chuẩn mực mới gồm bảng cân đối đầu kỳ, số liệu các quý và số liệu lập lại của cả năm | Thị trường có cơ sở hình thành kỳ vọng trước khi bộ báo cáo quý đầu tiên theo chuẩn mực mới ra đời |
| Công bố dần | Đưa dần số liệu theo chuẩn mực mới song song với số liệu cũ trong suốt giai đoạn chuyển đổi | Số liệu đưa ra sớm có thể còn thay đổi khi các lựa chọn chính sách được chốt, và kinh nghiệm cho thấy việc liên tục sửa kỳ vọng của thị trường nên tránh, kể cả khi nguyên nhân là thay đổi chính đáng về chính sách kế toán |
Tận dụng dự án đang có
Nếu doanh nghiệp vừa hoàn tất hoặc đang triển khai một dự án hệ thống quản trị nguồn lực hoặc dự án chuyển đổi tài chính, đây là thời điểm hợp lý để gộp việc chuyển đổi chuẩn mực vào cùng. Các bản mới của hệ thống quản trị nguồn lực lớn đều có sẵn khả năng đáp ứng nhiều bộ chuẩn mực, và tận dụng được thì tiết kiệm đáng kể so với làm hai dự án tách rời. Ba hướng tận dụng khác:
- Chạy thử trên một đơn vị. Bắt đầu từ một công ty con hoặc một quốc gia rồi rút kinh nghiệm cho phần còn lại.
- Gom về trung tâm dịch vụ chung. Việc thống nhất về một chuẩn mực báo cáo là lý do hợp lý để gom các bộ phận tài chính phân tán về một đầu mối.
- Rà lại toàn bộ chính sách kế toán. Chuyển đổi buộc xem lại doanh thu, tổn thất tài sản, thanh toán bằng cổ phiếu và việc vốn hoá chi phí, nên tiện thể làm mới cả bộ chính sách.
Dự án chuyển đổi trong bối cảnh VFRS
Với phần lớn doanh nghiệp Việt Nam, đích tới trước mắt là hệ chuẩn mực VFRS chứ chưa phải chuẩn mực quốc tế áp dụng thẳng. Theo lộ trình xây dựng VFRS, khoảng 44 chuẩn mực được công bố theo ba đợt trong giai đoạn 2026 tới 2029, áp dụng thử nghiệm 2030 tới 2031, rồi đánh giá từ quý IV/2031. Bốn giai đoạn và năm bài học ở trên áp dụng nguyên vẹn cho đường đi này, vì bản chất công việc giống nhau: đổi một nền kế toán hoàn chỉnh sang một nền kế toán hoàn chỉnh khác.
Khác biệt nằm ở quỹ thời gian. Đường VFRS có bước đệm dài hơn, và giai đoạn thử nghiệm là dịp để sai mà chưa phải trả giá. Doanh nghiệp dùng được giai đoạn đó đúng cách sẽ tránh được bài học thứ tư trong bảng trên, tức là tình trạng làm bộ báo cáo đầu tiên bằng cách thủ công rồi không duy trì nổi.
Câu hỏi thường gặp
Dự án chuyển đổi gồm mấy giai đoạn?
Bốn giai đoạn: khoanh phạm vi để xác định quy mô công việc, đặt hạn chót và phân công trách nhiệm; chuẩn bị nguồn lực để đội ngũ đủ năng lực lập báo cáo theo chuẩn mực mới; thực thi để thu thập dữ liệu, phân tích, đo lường và thuyết minh; giám sát để bảo đảm chất lượng và gắn kiểm soát nội bộ vào quy trình.
Vì sao khối lượng việc hay bị đánh giá thấp?
Vì nhận thức ban đầu coi đây là vấn đề kế toán thuần tuý. Thực tế dự án chạm tới hệ thống công nghệ thông tin, chính sách nhân sự và lương thưởng, điều khoản hợp đồng vay, cách lập kế hoạch và đặt chỉ tiêu, cùng đường đối chiếu với số liệu kê khai thuế. Cách né là lập nhóm dự án có mặt các bộ phận đó ngay từ giai đoạn khoanh phạm vi.
Nên bắt đầu từ vùng nào trước?
Từ nhóm cần xử lý ngay: các vùng vừa chênh lệch lớn vừa cần nhiều thời gian chuẩn bị và thu thập dữ liệu. Trong đó ưu tiên các đầu việc cần dữ liệu tích luỹ theo thời gian như lịch sử thu hồi công nợ, vì loại việc này không rút ngắn được bằng cách tăng người.
Điều khoản hợp đồng vay xử lý lúc nào?
Nên xử lý song song thay vì để cuối. Ba bước: xác định ảnh hưởng của chuyển đổi lên báo cáo tài chính có mô hình hoá các lựa chọn đang cân nhắc; dự phóng các số dư liên quan và ảnh hưởng lên các điều khoản ràng buộc trong nhiều tình huống; mở đàm phán với hạn chót đủ sớm để kết thúc trước ngày chuyển đổi.
Nên công bố thông tin ra thị trường thế nào?
Một cách đã được dùng ở các thị trường khác là công bố trọn gói: đưa kết quả năm cuối theo chuẩn mực cũ trước, rồi ngay sau đó công bố đủ bộ số liệu theo chuẩn mực mới gồm bảng cân đối đầu kỳ, số liệu các quý và số liệu lập lại cả năm. Cách này giúp thị trường hình thành kỳ vọng trước khi bộ báo cáo quý đầu tiên theo chuẩn mực mới ra đời, tránh việc phải sửa kỳ vọng nhiều lần.
Doanh nghiệp đang triển khai hệ thống quản trị nguồn lực thì nên làm gì?
Nên gộp việc chuyển đổi chuẩn mực vào cùng dự án đó. Các bản mới của hệ thống quản trị nguồn lực lớn đều có sẵn khả năng đáp ứng nhiều bộ chuẩn mực, nên cấu hình một lần thường rẻ hơn nhiều so với làm hai dự án tách rời rồi phải sửa lại hệ thống lần thứ hai.
- Quyết định 345/QĐ-BTC ngày 16/3/2020 phê duyệt Đề án áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính tại Việt Nam
- Quyết định 633/QĐ-TTg ngày 23/5/2022 về Chiến lược kế toán, kiểm toán đến năm 2030
- Thông tư 118/2026/TT-BTC ngày 18/8/2026 hướng dẫn đối tượng, phạm vi và thể thức áp dụng chuẩn mực quốc tế về kế toán, hiệu lực 01/01/2027
- IFRS 1 First-time Adoption of International Financial Reporting Standards
Đưa chuẩn mực vào hệ thống, đừng để ngoài bảng tính
Bài học lặp lại nhiều nhất là bộ báo cáo năm đầu làm thủ công rồi không duy trì nổi. Cách né là để số liệu sinh ra từ chính hệ thống kế toán, ở mức chi tiết đủ dùng cho cả hai bộ chuẩn mực.

Để lại một bình luận